Sốt cao + tiểu bất thường dễ viêm thận bể thận cấp

(khoahocdoisong.vn) - Nếu sốt cao kèm theo các triệu chứng về bàng quang như tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu khó, tiểu máu, tiểu đục, tiểu mủ… người bệnh chớ chủ quan bởi đây là dấu hiệu viêm thận bể thận cấp gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho tính mạng.

Viêm thận bể thận cấp là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính các đài thận, bể thận, niệu quản và nhu mô thận hay còn gọi là nhiễm khuẩn đường tiết niệu trên. ác nhân hay gặp nhất là do trực khuẩn gram (-) như nhiễm Secheria Coli, trực khuẩn mủ xanh (pseudomonas Aerugnosa). Cũng có trường hợp nhiễm tụ cầu vàng gây bệnh (S. Aureus).

Các vi khuẩn này thường xâm nhập vào đài bể thận theo đường tiết niệu, sinh dục, bắt đầu từ bộ phận sinh dục ngoài, niệu đạo, bàng quang, niệu quản rồi đến đài, bể thận. Cũng có thể đi theo đường máu hoặc bạch huyết vào thận. Các dấu hiệu nhiễm khuẩn xuất hiện rầm rộ. Siêu âm cho thấy hình ảnh thận to do phù nề nhu mô thận và có nhiều ổ áp xe nhỏ, có thể tìm thấy thận ứ nước do sỏi hoặc do nguyên nhân tắc nghẽn khác.

Bệnh nhân đột ngột sốt cao rét run, có thể thành cơn 39 – 40 độ C, kèm theo đau đầu và mệt mỏi, môi khô lưỡi bẩn, có thể mất nước do sốt cao. Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời sẽ bị sốc nhiễm khuẩn. Người bệnh đau mạn sườn, đau vùng hông lưng phía bên thận bị tổn thương cùng các triệu chứng tiểu lắt nhắt, tiểu đau, thể trạng suy sụp nhanh chóng, môi khô nứt nẻ, lưỡi bẩn... Nếu sử dụng thuốc hạ sốt thì giảm đi trong một khoảng thời gian ngắn (một vài giờ) sau đó cơn sốt lại bùng phát trở lại.

Hội chứng bàng quang thường có nhưng không phải trong tất cả mọi trường hợp như tiểu buốt, cảm giác nóng rát, tiểu rắt (mót tiểu, phải rặn liên tục), tiểu đục, cũng có trường hợp tiểu ra máu, mủ… Trong máu, bạch cầu tăng, đa nhân trung tính tăng, có thể có nhiễm khuẩn huyết. Khi urê, creatinin máu tăng cao là có suy thận cấp hoặc đợt cấp của suy thận mạn. Ngoài ra, một số bệnh nhân còn có biểu hiện chán ăn, ăn không ngon, buồn nôn, nôn, bụng trướng, cơ thể mệt mỏi rã rời.

Yếu tố thuận lợi dễ gây bệnh là do: Nhiễm khuẩn tiết niệu ngược dòng gặp trong trường hợp trào ngược bàng quang – niệu quản, sau khi soi bàng quang – niệu quản, chụp thận ngược dòng (UPR); Sau phẫu thuật hệ tiết niệu; Tắc nghẽn đường tiết niệu do sỏi, khối u, hội chứng chỗ nối, xơ sau phúc mạc, hẹp bể thận niệu quản và có thai…; Có ổ viêm khu trú: Viêm bàng quang, viêm tuyến tiền liệt, viêm trực tràng, viêm ruột thừa, viêm phần phụ...

Khi có các dấu hiệu trên cần nhanh chóng đưa bệnh nhân tới điều trị cấp cứu tại bệnh viện. Cấy máu và cấy nước tiểu để xác định vi khuẩn gây bệnh và làm kháng sinh đồ để chọn kháng sinh điều trị thích hợp. Bệnh thường tiến triển tốt và hồi phục hoàn toàn nếu được điều trị sớm, đúng thuốc sau vài ngày sẽ cắt được cơn sốt, nước tiểu trong trở lại sau 1 - 2 tuần, 3 - 4 tuần thì khỏi. Nhưng nếu điều trị muộn hoặc không đúng thì bệnh dễ tái phát, chuyển thành mạn tính, suy thận, hoại tử núm thận, ứ mủ thận, tăng huyết áp... nguy hiểm tới tính mạng.

Đặc biệt, đối với nhiễm trùng huyết có thể xảy ra với viêm  thận – bể thận tràn khí do vi khuẩn sinh hơi có thể làm bệnh nhân tử vong. Người lớn khỏe mạnh thường hồi phục chức năng thận bình thường nhưng nếu có kèm theo bệnh lý thận khác thì có thể dẫn đến tình trạng viêm mạn tính và suy thận. Để phòng ngừa, cần vệ sinh sạch sẽ cơ thể, nhất là ở bộ phận sinh dục.

 TS Trương Thanh Tùng (Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Thanh Hóa)

Theo Đời sống
back to top