Kiểm soát huyết áp ở những bệnh nhân đặc biệt

(khoahocdoisong.vn) - Những người tăng huyết áp (THA) có các bệnh phối hợp như tim mạch, rối loạn chuyển hóa, suy thận... càng phải đặc biệt chú ý khi dùng thuốc để có hiệu quả tốt nhất.

Những bệnh nhân đặc biệt cần chú ý HA

Người cao tuổi: Người cao tuổi có nhiều nguy cơ khác, tổn thương các cơ quan đích và bệnh tim mạch đi kèm nên lựa chọn thuốc phải phù hợp với tình trạng đó. Cần phải đo huyết áp ở tư thế ngồi và đứng để phát hiện hạ huyết áp tư thế và tác dụng phụ của thuốc gây hạ áp khi đứng.

Nói chung, bệnh nhân cao tuổi cũng dùng những thuốc chống THA như ở bệnh nhân còn trẻ. Tuy vậy, nên bắt đầu điều trị với liều thấp hơn. Bệnh nhân lớn tuổi có nguy cơ bị bệnh mạch vành và đột quỵ cao hơn. Điều trị hạ HA có thể giảm nguy cơ này. Việc lựa chọn thuốc THA phải dựa vào khả năng của thuốc có tác dụng: giảm HA kéo dài 24 giờ; Tác dụng tích cực trên phì đại thất trái.

Người rất cao tuổi (trên 80 tuổi): Điều trị THA ở nhóm tuổi này cũng mang lại những lợi ích rõ ràng và làm giảm nguy cơ bị đột quỵ và suy tim. THA nhẹ và vừa không cần dùng thuốc ngay, cần điều chỉnh lối sống như: ăn hạn chế muối, kiểm soát cân nặng và tập thể dụng đều. Khi HA tâm thu trên 160mmHg hay huyết áp tâm trương trên 90mmHg thì phải dùng thuốc. Tuy vậy, nên điều trị cả khi có mức HA thấp hơn nếu có các biến chứng tim mạch hoặc tổn thương cơ quan đích, mắc bệnh đái tháo đường.

Phì đại thất trái: Khoảng 1/3 số bệnh nhân THA có phì đại thất trái. Đây là một trong những biểu hiện thường gặp nhất của tổn thương cơ quan đích trong THA và làm tăng tỷ lệ suy tim, nhồi máu cơ tim và đột quỵ lên 6 lần. Chẩn đoán phì đại thất trái có dựa vào điện tâm đồ hay siêu âm tim (bình thường chỉ số khối cơ thất trái dưới 130g/m3 ở nam giới, dưới 110g/m3 ở nữ giới).

Đái tháo đường: THA rất thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ (71% bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2). Sự đồng thời hiện diện của cả THS và đái tháo đường làm tăng nguy cơ bị bệnh các mạch máu lớn, bao gồm đột quỵ, bệnh mạch vành, suy tim, bệnh máu ngoại biên và tăng tỷ lệ tử vong. Nên thường xuyên dùng một thuốc ức chế men chuyển hay một số thuốc đối kháng angiotensin II.

Bệnh lý mạch máu não kèm theo: Có nhiều bằng chứng cho thấy lợi ích của điều trị thuốc hạ áp trên bệnh nhân đã bị tai biến mạch máu não hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua. Tuy nhiên, thầy thuốc sẽ quyết định hạ HA đến mức nào và như thế nào.

Bệnh mạch vành và suy tim kèm theo: 25% nguy cơ phát sinh bệnh mạch vành do THA. THA có phì đại thất trái làm tăng nguy cơ suy tim lên từ 4 - 6 lần. Suy tim có thể xảy ra do rối loạn chức năng tâm trương (giảm khả năng giãn ra của thất trái) hoặc rối loạn chức năng tâm thu (giảm khả năng co bóp của thất trái). Kiểm soát tốt HA với các biện pháp dùng thuốc hoặc thay đổi lối sống có thể giảm khối cơ thất trái.

Điều trị hạ HA và đặc biệt là bằng thuốc ức chế men chuyển (hay thuốc ức chế thụ thể angioyensin II khi thuốc ức chế men chuyển có tác dụng phụ) làm giảm nguy cơ tái phát bệnh động mạch vành, phòng ngừa suy tim ứ huyết và kéo dài tuổi thọ của các bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp có suy tim.

Bệnh nhân có suy thận: Bệnh nhân bị THA vô căn rất hay gặp tổn thương thận phối hợp. Bảo vệ thận ở bệnh nhân tiểu đường bằng cách kiểm soát chặt chẽ HA (dưới 130/80mmHg và thấp hơn nếu đạm niệu trên 1g/ngày), giảm đạm niệu bằng thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc ức chế thụ thể angiotensin II nếu không có chống chỉ định. Để đạt HA mục tiêu thường cần điều trị phối hợp thêm thuốc lợi tiểu và thuốc đối kháng kênh canxi.

Người có thai: THA ở người có thau làm tăng nguy cơ tử vong của cả mẹ và thai nhi và trẻ nhũ nhi. Về mặt sinh lý, HA bình thường sẽ hạ xuống khoảng 15mmHg vào 3 tháng giữa của thai kỳ. Vào 3 tháng cuối HA sẽ trở lại như trước khi có thai hay thậm chí cao hơn. Việc dùng thuốc trong THA thai kỳ phải hết sức thận trọng. Nuôi con bằng sữa mẹ không làm THA. Tuy nhiên, hầu hết các thuốc hạ HA tùy mức độ sẽ được bài tiết qua sữa mẹ, cho nên cần chú ý không cho con bú khi mẹ phải dùng các thuốc có thể gây độc cho nhũ nhi.

Theo Đời sống
back to top